


Viếng mộ Nguyễn Biểu. (Trần Quốc Thường)
Vật bản hồ thiên.
Nhân bản hồ tổ.
Ai ai phụ mẫu, Sinh ngã cù lao.
Tất cung kính chi duy tang dữ tử.
Quê ta: Chữ Đức rạng ngời - Dăm Đục – Cồn Trong có tự bao giờ.
Việc học rỡ ràng - Dăm Bút –Dăm Nghiên đến nay còn đó.
Đất Ba Hồ là đất địa linh.
Chốn Chi La là nôi khoa cử.
Nơi này đã sinh ra Nguyễn Biểu tiên sinh.
Chính Người làm rạng danh quê cha đất tổ.
Nhớ Người xưa:
Dáng dấp nho sinh, học chữ thánh hiền,Người có tên trên bia đá bảng vàng.
Tính tình cương trực, giúp rập Trùng Quang, Người được vua phong Điện tiền ngự sử.
Hồi ấy:
Giặc Minh xảo trá, uốn lưỡi lừa dối dân đen.
Trương Phụ bạo tàn, vung gươm sát tàn con đỏ.
Kẻ chết ngậm oan.
Người còn sống dở.
Nhớ khi:
Trùng Quang đế lo mưu đại sự, tìm kế cầu phong.
Bậc lương thần không kể gian nguy, quyết vào hang hổ.
Vua tin tưởng đọc bài thơ tiễn, lòng vẫn lo lành ít dữ nhiều.
Ngài trung thành hoạ khúc thi tiên, dạ vẫn vui, trổ tài thi thố.
Trương Phụ gian thâm, phùng mang trợn mắt, mở tiệc đầu người.
Phan Liêu đớn hèn, lẫm lét vẩy đuôi, thua loài dê chó.
Anh linh của Người tuy đã về trời,
Danh hiệu của Người còn lưu mọi chổ.
Nhớ hoài hồn thơ khí khái, Sơn Thành lớp lớp mây bay.
Khôn nguôi tiếng chửi căm hờn, Lam Giang ào ào sóng vỗ.
Quê ta bao cơn dâu bể, đổi mới đi lên, chính nhờ Đảng - Bác dẫn đường.
Mảnh đất này mấy độ binh đao, trở lại thái bình, còn ơn Đại vương che chở.
Công đức của Người chua chút báo đền.
Mơ ước chúng con hôm nay mới rõ.
Mọi người gần xa, của ít lòng nhiều, lo tu sửa đền thờ.
Con cháu khắp nơi, gom góp của tiền, mong dựng xây phần mộ.
Hôm nay nhân ngày dổ của Người,
Cũng là ngày khánh thành lăng mộ:
Như chim nhớ cành, trăm nẻo bay về làng Yên Phúc, lối ngõ ríu rít nói cười.
Như cây nhớ cội, muôn phương tìm đến đất Nội Diên, đường xá dập dìu xe cộ.
Miếu Nghĩa sỹ khói toả, hương bay.
Dăm Đồng Bè trống dong, cờ mở.
Thật là: Bình thuỷ tương phùng, kẻ đón hân hoan.
Long vân tụ hội, người về hớn hở.
Trăm lạy nhớ thương, bên lăng tẩm Người, con cháu xin thề,
Cúi đầu thành kính, trước mộ Người, thầy trò xin cố:
Tay nắm tay đoàn kết một lòng, đặt dân an, dân chủ lên trên.
Dạ dặn lòng, trọng đạo tôn sư, mong dân trí, dân tình tiến bộ.
Trời cao ngó xuống, đất dày trông lên.
Nghĩa sỹ thiêng liêng, xin về phù hộ:
Giúp non sông diệt ác trừ tham,
Cứu quê hương, xoá nghèo giảm khổ.
Chúng con lòng thành hữu dư,
Lễ lạt đơn sơ, thất thố.
Việc làm lời nói có sai,
Mong lượng bề trên rộng mở.
Yên Hồ, 1.7 Mậu Dần.
Trần Quốc Thường
Hạnh phúc
( Nhớ ngày củi quế gạo châu)
Nếp nhà tranh, muốn níu buộc cuộc đời,
Ta vẫn yêu sao gia đình mình nhà giáo.
Con chưa đủ tuổi đời đã giành giáo án của cha.
Mới chập chững học đi đã đến trường cùng mẹ.
Dưới đèn: cha mở sách con xem.
Trên đường: mẹ cầm tay con bước.
Cuộc sống nhà mình chưa bao giờ có được,
Gian khổ nhiều, song hạnh phúc bao nhiêu.
Mùa đông 1990.

Đêm ngủ ở nhà bạn
Vợ chồng không ngủ ăn cùng,
Nhưng mà họ vẫn sống chung một nhà.
Thương cho Mèo-Cún nhà ta,
Gia chủ ngăn nhà, đi lại khó khăn,
Quen rồi ơi những bước chân,
Hồn nhiên chạy nhảy, tung tăng giữa đời.
Đêm khuya vào giấc ngủ rồi,
Tiếng Mèo cào vách làm tôi bực mình.
( Trần Quốc Thường)

Nước lũ tràn vào lớp học,
Bóng thầy loang loáng chân bàn.
Ngói vỡ...
Rớt đánh bủm.
Bóng thầy tan.
ơ kìa! mây trắng một làn.
Bóng thầy rạng giữa muôn vàn hào quang.
( Trần Quốc Thường-đã đăng ở tạp chí TGTT số 83)
Gái Quê
Muốn ăn cơm nếp đỗ chà
Muốn xem gái đẹp mời ra Yên Hồ.
Gái Yên Hồ.
Nhẹ nhàng bước vào giấc mơ
Của bao trai trẻ ngày chờ đêm mong.
Chăm làm cho dáng lưng ong
Nết na thuỳ mị, mát lòng người ơi!
Hôm qua, anh mới sang chơi
Về nhà dục mẹ, tìm cơi đựng trầu.
Cho dù núi dựng, sông sâu.
Cũng đưa cho được miếng trầu qua sông.
Gió và Bão
Nhớ nhau ta cứ nhớ,
Như gió mát đêm nồng.
Sẽ trắng tay, rát mặt,
Khi gió thành bão giông.

Hoa đào nở sớm
Đông rét, cỏ cây dấu nụ.
Riêng đào sưởi ấm lòng tôi.
Xuân sang, trăm hoa khoe sắc.
Đào vườn tôi kết trái rồi
( Trần Quốc Thường)
Thương chàng Trọng Thuỷ ngày xưa,
Vì TRUNG với nước mà lừa Mĩ Châu.
ơn cha lấy HIẾU làm đầu.
Vẹn TÌNH với vợ, giếng sâu gieo mình.
( Trần Quốc Thường- Đã đăng ở VHTT 6.2006 và Tạp chí TGTT số 93)
Hôm qua em đi tỉnh về,
Hương đồng gió nội bay đi ít nhiều.(1)
Chữ trinh đáng giá bao nhiêu?
Mà em nhắm mắt, đành liều đưa chân.
Kiều xưa mang tiếng tà dâm.
Vì cha, nàng phải dấn thân đoạn trường.
Đời tàn, nhạt sắc, phai hương,
Dẫu em muốn được hoàn lương khó thành.
Mộ Đạm Tiên, cỏ còn xanh?
Nén hương Kiều thắp, quẩn quanh đến giờ.
Anh nay trước mộ ngẫn ngơ,
Làm cây hương đỏ thắp chờ hồn em.
(1) Thơ Nguyễn Bính


Đất học Yên Hồ chẳng nhường ai.
Gái lụa quê mình sánh tài trai.
Cồn Trong-Dăm Đục* khuyên tu đức.
Ngòi Bút-Đài Nghiên* nhắc luyện tài.
Nguyễn Biểu -Đào Tiêu** ngời đất nội.
Cụ Hoàng -Ông Quý*** rạng trời ngoài.
Phi trí bất hưng, luôn ghi nhớ.
Lạc đạo vong bần, chẳng hề phai.
( Trần Quốc Thường-đã đăng báo GDTĐ-11.2004)
Chú thích:* Tên các di tích có ở Yên Hồ.
** Nguyễn Biểu: đậu Thái học sinh thời nhà Hồ.
Đào Tiêu đậu Trạng nguyên (1275) khai khoa cho đất Nam Châu Hoan.
*** GS Hoàng Xuân Hãn và GS-TS Võ Quý người Yên Hồ.( 2 ảnh trên)
Trái đất quay tròn lại gặp nhau.
Tình thầy nghĩa bạn, trước như sau.
La Giang sóng vỗ, làm xanh bãi.
Hồng Lĩnh mây bay, phủ trắng đầu.
Thư bạn gửi trao, mừng từng chữ.
Lời thầy dạy dổ, nhớ từng câu.
Cho dù bến cũ neo thuyền mới
Ta vẫn là ta nghĩa bạn bầu.

Di sản Huế
Nếu các chúa, các vua triều Nguyễn,
Sống bình dân, giản dị giữa kinh kì,
Thì UNESCO biết lấy chi,
Công nhận Huế có hai di sản?
( Sau khi dạy bài Trí khôn)
Một con cọp từ rừng sâu đi ra.
Nó chẳng làm hại gì ta
Mà chỉ thiết tha học hỏi.
Làm hại cọp rồi
Về nhà ta sám hối.
(Trần Quốc Thường-Đã đăng ở tạp chí VHTT 6.2006, và tạp chí TGTT số 93)
Một em ngồi trong cổng sắt.
Một em ở ngoài.
Hai đứa ở hai bờ tự do và tù túng.
Người làm bố thí.
Kẻ đi hành khất.
Vẫn thò tay qua cửa sắt,
Chơi ô ăn quan.
Nghe tiếng xe về,
Chúng vội vàng,
Hai đứa chạy về hai miền đau khổ.
Cuộc chơi đành bỏ dở,
Bởi chưa đến hồi hết quan.
( Trần Quốc Thường-đã đăng tạp chí TGTT- số 53 tháng 2.2009)
Chú thích: Trong trò chơi này khi nào hết quan hoàn dân mới xong ván.

Một cơn lũ quét.
Làm trường em ngói đổ.
Nhà em sụp đổ.
Giờ em nơi nao?
Một con ngựa đau, cả tàu bỏ cỏ.
Một cây xanh đổ,
Để khoảng trống giữa trời.
Một học sinh nghỉ học
Để khoảng trống trong tôi.
( Trần Quốc Thường-đã đăng tạp chí TGTT-số 53-2.2009)
Làm thầy nơi quê rượu
Vấp ngã nơi đâu còn được,
Nay về Thanh Lạng* làm thầy,
Đường trơn bấm chân cho vững,
Kẻo mà học trò tưởng say.
( Trần Quốc Thường-đã đăng ở TGTT - số 53-2.2009)
* Nơi có rượu ngon nổi tiếng ở Đức Thọ-Hà Tĩnh.


Các ý kiến mới nhất